Đất đai & Nhà ở

Tranh chấp đất đai: Quy định, các loại và cách xử lý

Theo khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai 2024, tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Có bốn hướng xử lý chính: các bên tự thỏa thuận, hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất, yêu cầu Chủ tịch UBND có thẩm quyền giải quyết, hoặc khởi kiện tại Tòa án. Hướng nào áp dụng cho vụ việc của bạn phụ thuộc vào loại yêu cầu, giấy tờ mà các bên đang có và chủ thể tranh chấp. Lưu ý quan trọng: từ 01/07/2025, tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư ở nhánh hành chính thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã, không còn là cấp huyện.

Tranh chấp đất đai là gì?

Luật Đất đai định nghĩa tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai (khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai 2024). Định nghĩa này rộng hơn cách hiểu thông thường là “giành đất”: nó bao gồm cả mâu thuẫn về ranh giới, về việc ai được sử dụng phần đất nào, hay về nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình sử dụng đất.

Cần phân biệt khái niệm này với một khái niệm hẹp hơn: “đất đang có tranh chấp”. Theo khoản 16 Điều 3, đây là thửa đất có tranh chấp đất đai và vụ việc đang trong quá trình được cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Sự khác biệt rất quan trọng trên thực tế, vì nhiều hạn chế pháp lý — chẳng hạn điều kiện chuyển nhượng — gắn với trạng thái “đang có tranh chấp” chứ không gắn với việc có hay không một mâu thuẫn.

Đất đang có tranh chấp thì bị hạn chế những gì?

Đây là nhóm câu hỏi rất phổ biến và cũng là nơi dễ gặp thông tin sai. Ba câu hỏi dưới đây có ba câu trả lời khác nhau, không nên gộp chung thành một kết luận.

Câu hỏiKết luậnCăn cứ
Đất đang tranh chấp có được tiếp tục sử dụng không?Pháp luật không đặt một lệnh cấm chung buộc mọi hoạt động sử dụng phải dừng lại. Nhưng việc sử dụng phải đúng mục đích, đúng ranh giới, không xâm phạm quyền của bên kia và phải tuân thủ quyết định của cơ quan có thẩm quyền, biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc biện pháp bảo đảm thi hành án nếu đang được áp dụng.Điều 5, khoản 1 Điều 31 Luật Đất đai; Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015
Đất đang tranh chấp có được bán (chuyển nhượng) không?Chưa đáp ứng điều kiện. Điều 45 yêu cầu đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bằng bản án, quyết định, phán quyết đã có hiệu lực pháp luật. Ngay cả khi điều kiện này được tháo gỡ, giao dịch vẫn phải đáp ứng các điều kiện khác.Điểm b khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai
Đất đang tranh chấp có bị Nhà nước thu hồi không?Có thể. Pháp luật không quy định đất đang tranh chấp được miễn khỏi việc thu hồi, với điều kiện việc thu hồi có đúng căn cứ, thẩm quyền và trình tự. Khoản 4 Điều 94 còn dự liệu trường hợp này: tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tại ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối để chờ xác định người có quyền.Khoản 4 Điều 94 Luật Đất đai

Các loại tranh chấp đất đai thường gặp

Pháp luật không liệt kê một danh mục đóng “các loại tranh chấp đất đai”. Cách phân nhóm dưới đây dựa trên những tình huống phổ biến trên thực tế, nhằm giúp bạn nhận diện vụ việc của mình rơi vào đâu và cần chuẩn bị gì.

Tranh chấp ranh giới, mốc giới

Đây là dạng tranh chấp về việc đường ranh giữa hai thửa đất liền kề nằm ở đâu. Theo Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015, ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

Điều 175 cũng đặt ra nghĩa vụ tôn trọng ranh giới chung: các bên không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả với kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Về việc dựng mốc, Điều 176 quy định các chủ thể có thể thỏa thuận dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách; nếu tự mình dựng thì công trình đó phải nằm trên phần đất của mình.

Tranh chấp lối đi

Khi một thửa đất bị các thửa đất khác vây bọc và không có hoặc không đủ lối ra đường công cộng, người có bất động sản bị vây bọc có quyền yêu cầu một trong những người sử dụng bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ (khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự 2015).

Khoản 2 Điều 254 xác định cách chọn vị trí và kích thước lối đi: các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà nhất, đồng thời phải phù hợp với đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi. Nếu có tranh chấp về lối đi, các bên có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.

Về đền bù, người được dành lối đi thông thường phải đền bù cho người sử dụng bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Riêng trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ thể khác nhau, khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo khoản 2 Điều 254 mà không có đền bù (khoản 3 Điều 254).

Lấn đất, chiếm đất

Đây là hai hành vi khác nhau và Luật Đất đai định nghĩa riêng từng hành vi. Lấn đất là việc người sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích sử dụng mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép (khoản 31 Điều 3). Chiếm đất là việc sử dụng đất do Nhà nước đã quản lý mà chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép, hoặc sử dụng đất của người sử dụng đất hợp pháp khác mà không được người đó cho phép (khoản 9 Điều 3).

Điểm chung của hai định nghĩa là yếu tố “không được phép”. Vì vậy, việc gắn nhãn một hành vi cụ thể là lấn hay chiếm đòi hỏi phải xác định được ranh giới thực tế, ai là người có quyền hợp pháp đối với phần đất đó, và có hay không sự cho phép. Khi vị trí ranh giới còn đang tranh chấp và chưa được xác định, chưa thể kết luận một bên đã lấn hoặc chiếm.

Ở chiều ngược lại, khoản 1 Điều 31 Luật Đất đai đặt ra nghĩa vụ chung cho người sử dụng đất là sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất. Đây là căn cứ để bên bị ảnh hưởng yêu cầu bên kia chấm dứt hành vi cản trở và trả lại quyền sử dụng đối với phần đất của mình.

Tranh chấp khi đã có hoặc chưa có sổ đỏ

“Sổ đỏ” là cách gọi thông dụng của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Tình trạng giấy tờ là yếu tố quyết định vụ việc của bạn được giải quyết ở đâu, theo Điều 236 Luật Đất đai. Bên cạnh giấy chứng nhận, luật còn công nhận một nhóm giấy tờ về quyền sử dụng đất được liệt kê tại Điều 137 — thường là các giấy tờ được lập trước đây qua các thời kỳ. Vì vậy, trước khi kết luận “không có giấy tờ gì”, cần rà lại toàn bộ hồ sơ cũ trong gia đình.

Tình trạng giấy tờCơ quan giải quyếtCăn cứ
Các bên hoặc một bên có Giấy chứng nhận, hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137Tòa án giải quyết. Nhóm tranh chấp về tài sản gắn liền với đất cũng thuộc Tòa án.Khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai
Các bên đều không có Giấy chứng nhận và không có giấy tờ quy định tại Điều 137Các bên được lựa chọn: nộp đơn yêu cầu Chủ tịch UBND có thẩm quyền giải quyết, hoặc khởi kiện tại Tòa án.Khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai

Hai kết luận thường bị hiểu sai cần được nói rõ. Thứ nhất, có giấy chứng nhận không loại trừ khả năng thửa đất bị tranh chấp và không bảo đảm bên đứng tên chắc chắn thắng — chính khoản 1 Điều 236 đã dự liệu tình huống tranh chấp mà một bên có giấy chứng nhận. Giấy chứng nhận là chứng thư pháp lý quan trọng, nhưng cơ quan giải quyết vẫn đánh giá nó cùng với hồ sơ địa chính và các chứng cứ khác. Thứ hai, không có sổ đỏ không có nghĩa là không giải quyết được, và cũng không có nghĩa là chỉ được nộp đơn lên UBND: khoản 2 Điều 236 trao quyền lựa chọn giữa hai nhánh.

tranh chấp khi đất đã có sổ đỏ

Nguyên tắc và căn cứ giải quyết tranh chấp

Không có một loại giấy tờ hay một chứng cứ nào luôn luôn quyết định kết quả. Cơ quan giải quyết phải xác định đúng quan hệ tranh chấp, rồi đối chiếu giấy chứng nhận và giấy tờ theo Điều 137, hồ sơ địa chính, nguồn gốc và quá trình sử dụng đất, hiện trạng thực tế cùng các chứng cứ hợp pháp khác. Nguyên tắc nền tảng vẫn là nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích và đúng ranh giới theo Điều 5 và khoản 1 Điều 31 Luật Đất đai.

Riêng với nhánh hành chính, khi các bên không có giấy chứng nhận và không có giấy tờ Điều 137, Điều 108 Nghị định 102/2024/NĐ-CP quy định một nhóm căn cứ riêng để cơ quan xem xét, gồm: nguồn gốc và quá trình sử dụng đất; hiện trạng sử dụng đất và diện tích đất mà các bên đang sử dụng ngoài diện tích đang tranh chấp, so với bình quân diện tích đất tại địa phương; quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt; chính sách ưu đãi đối với người có công; và các quy định về giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.

Khi vụ việc đưa ra Tòa án, việc đánh giá chứng cứ được thực hiện theo Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự: Tòa án đánh giá từng chứng cứ và sự liên quan giữa các chứng cứ, xác định giá trị chứng minh của từng chứng cứ trong mối quan hệ với toàn bộ hồ sơ, chứ không xếp hạng cứng loại chứng cứ nào cao hơn loại nào.

Có những cách nào để giải quyết tranh chấp đất đai?

Khung chung gồm bốn hướng: các bên tự thỏa thuận; hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất khi pháp luật yêu cầu; yêu cầu Chủ tịch UBND có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp được lựa chọn nhánh hành chính; hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền. Bốn hướng này không phải là một chuỗi bắt buộc phải đi qua tuần tự giống nhau trong mọi vụ việc — hướng nào áp dụng phụ thuộc loại yêu cầu, giấy tờ và chủ thể tranh chấp.

Tự thỏa thuận

Khoản 1 Điều 235 Luật Đất đai quy định Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết thông qua hòa giải ở cơ sở. Đây thường là hướng ít tốn kém và ít làm xấu quan hệ giữa các bên nhất, đặc biệt với tranh chấp ranh giới hoặc lối đi giữa hàng xóm.

Cần lưu ý hai điểm. Thứ nhất, tự thỏa thuận hoặc hòa giải ở cơ sở là một thủ tục khác với hòa giải tại UBND cấp xã; biên bản của tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố không thay thế được biên bản hòa giải của UBND cấp xã khi luật yêu cầu thủ tục đó. Thứ hai, nếu thỏa thuận làm thay đổi ranh giới, diện tích hoặc người sử dụng đất, các bên vẫn phải làm thủ tục đăng ký để kết quả đó được ghi nhận về mặt pháp lý.

Hòa giải tại UBND cấp xã

Theo khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai, trước khi cơ quan có thẩm quyền theo Điều 236 giải quyết, tranh chấp đất đai phải được hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất. Thời hạn thực hiện hòa giải là không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu (điểm c khoản 2 Điều 235).

Về trình tự, Điều 105 Nghị định 102/2024/NĐ-CP quy định UBND cấp xã thông báo bằng văn bản về việc thụ lý hoặc không thụ lý đơn trong thời hạn 03 ngày làm việc. Cuộc họp hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp có mặt; nếu một trong các bên vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành. Kết quả hòa giải phải được lập thành biên bản.

thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã

Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết

Nhánh hành chính là lựa chọn được khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai mở ra cho trường hợp các bên đều không có giấy chứng nhận và không có giấy tờ quy định tại Điều 137. Khi chọn nhánh này, thẩm quyền được xác định theo chủ thể tranh chấp.

  • Tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau: thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã. Đây là thay đổi có hiệu lực từ 01/07/2025 theo điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP, chuyển thẩm quyền này từ Chủ tịch UBND cấp huyện xuống cấp xã.
  • Tranh chấp mà một bên là tổ chức hoặc chủ thể thuộc nhóm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai: thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Về thời gian, khung ở trung ương quy định trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn, Chủ tịch UBND có thẩm quyền thông báo việc thụ lý hoặc không thụ lý. Thời hạn giải quyết là không quá 45 ngày ở cấp xã và không quá 50 ngày ở cấp tỉnh, kể từ ngày thụ lý; đối với địa bàn miền núi, biên giới, đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, thời gian được tăng thêm 10 ngày. Đây là khung tối đa ở trung ương — một số tỉnh công bố thời gian ngắn hơn trong quyết định thủ tục hành chính của địa phương, nên bạn nên kiểm tra quy định của tỉnh nơi có đất.

thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Khởi kiện tại Tòa án

Khởi kiện là hướng áp dụng cho nhóm tranh chấp thuộc khoản 1 Điều 236 (khi có giấy chứng nhận hoặc giấy tờ Điều 137, hoặc tranh chấp về tài sản gắn liền với đất), và cũng là một trong hai lựa chọn của nhóm thuộc khoản 2 Điều 236 khi các bên không có các giấy tờ đó.

Về Tòa án có thẩm quyền, theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, Tòa án nhân dân khu vực giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp dân sự — cơ cấu “TAND cấp huyện” đã được thay thế từ 01/07/2025 theo Luật 85/2025/QH15. Bên cạnh đó, điểm c khoản 1 Điều 39 quy định nếu đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết. Vì vậy, sau khi xác định thửa đất nằm ở xã, phường hoặc đặc khu nào, bạn cần tra cứu Tòa án nhân dân khu vực phụ trách địa bàn đó.

Một lưu ý về điều kiện khởi kiện: nếu yêu cầu của bạn thực chất là tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, bước hòa giải tại UBND cấp xã vẫn cần được thực hiện trước, kể cả khi bạn đang giữ giấy chứng nhận. Ngược lại, nếu yêu cầu là tranh chấp về giao dịch, thừa kế hoặc chia tài sản chung là quyền sử dụng đất, hòa giải tại xã không phải điều kiện khởi kiện theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP.

Ngoài ra, khoản 5 Điều 236 Luật Đất đai dự liệu trường hợp tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan đến đất đai — nhóm này có cơ chế riêng thông qua Tòa án hoặc Trọng tài thương mại Việt Nam, và nằm ngoài phạm vi bài viết này.

khởi kiện tranh chấp đất đai tại Tòa án

Cần chuẩn bị chứng cứ gì?

Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự đặt ra nguyên tắc cơ bản: đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ những trường hợp luật quy định khác. Nói cách khác, việc chuẩn bị chứng cứ chủ yếu là trách nhiệm của chính bạn.

Các nhóm tài liệu nên gom lại sớm:

  • Tài liệu xác lập quyền: giấy chứng nhận, các giấy tờ về quyền sử dụng đất thuộc Điều 137 Luật Đất đai, quyết định giao đất, cho thuê đất nếu có.
  • Hồ sơ địa chính và bản đồ: trích lục thửa đất, bản đồ địa chính, kết quả đo đạc.
  • Tài liệu về nguồn gốc và quá trình sử dụng: giấy tờ mua bán, tặng cho, thừa kế qua các thời kỳ; chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất.
  • Tài liệu về diễn biến tranh chấp: biên bản hòa giải, biên bản kiểm tra hiện trạng, văn bản trả lời của cơ quan nhà nước.
  • Ảnh, video, ghi âm, dữ liệu điện tử thể hiện hiện trạng và diễn biến sự việc.
  • Thông tin về người biết rõ sự việc để có thể lấy lời khai khi cần.

Điều quan trọng là các tài liệu này mới chỉ là nguồn chứng cứ; chúng phải đáp ứng điều kiện về hình thức và thủ tục thì mới được coi là chứng cứ. Theo Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự, tài liệu đọc được chỉ được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp, hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Băng ghi âm, ghi hình phải kèm theo văn bản trình bày về xuất xứ, hoặc văn bản xác nhận của người cung cấp về xuất xứ của tài liệu đó. Dữ liệu điện tử phải được thể hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Nếu có tài liệu bạn không thể tự thu thập được — chẳng hạn hồ sơ đang lưu tại cơ quan nhà nước — bạn có thể yêu cầu Tòa án thu thập, với điều kiện nêu rõ tài liệu cần thu thập, vấn đề cần chứng minh, nơi đang lưu giữ và lý do không tự thu thập được. Riêng ở nhánh hành chính, một phần hồ sơ như bản đồ, dữ liệu đo đạc do cơ quan tham mưu lập hoặc thu thập, nên bạn không phải tự nộp toàn bộ ngay từ đầu.

Nên bắt đầu từ bước nào trong từng tình huống?

Không có một quy trình duy nhất áp dụng cho mọi tranh chấp. Ba việc nên làm trước tiên trong mọi trường hợp là: xác định chính xác yêu cầu của mình là gì, rà lại toàn bộ giấy tờ đang có, và bảo toàn chứng cứ về hiện trạng. Sau đó, bảng dưới đây gợi ý bước mở đầu phù hợp với từng tình huống.

Tình huống của bạnBước mở đầu phù hợp
Tranh chấp về việc ai có quyền sử dụng đất, tranh chấp ranh giới hoặc đòi lại đấtThu thập giấy tờ và ghi nhận hiện trạng; thử thỏa thuận trực tiếp; nếu không xong thì nộp đơn yêu cầu hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất trước khi đi tiếp nhánh theo Điều 236.
Một bên có giấy chứng nhận hoặc giấy tờ thuộc Điều 137Sau khi hoàn tất bước hòa giải áp dụng cho vụ việc, chuẩn bị hồ sơ khởi kiện tại TAND khu vực có thẩm quyền. Không dự đoán kết quả chỉ dựa vào việc ai đang đứng tên trên sổ.
Không bên nào có giấy chứng nhận hoặc giấy tờ Điều 137Sau bước hòa giải áp dụng, cân nhắc giữa nộp đơn lên Chủ tịch UBND có thẩm quyền và khởi kiện tại Tòa án. Tập trung củng cố chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất.
Tranh chấp về giao dịch, thừa kế hoặc chia tài sản chung là quyền sử dụng đấtPhân loại đúng yêu cầu trước. Hòa giải tại UBND cấp xã không phải điều kiện khởi kiện đối với nhóm này, dù các bên vẫn có thể tự hòa giải.
Có nguy cơ bên kia thay đổi hiện trạng, phá mốc, chuyển dịch tài sản hoặc làm mất chứng cứƯu tiên bảo toàn chứng cứ và tránh tự xử lý. Nên tham vấn ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể về các biện pháp bảo vệ chứng cứ hoặc biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Bảng trên là định hướng ban đầu để bạn không đi sai cửa ngay từ bước đầu tiên, không phải cam kết về kết quả. Những vụ việc có yếu tố nước ngoài, có nhiều loại yêu cầu cùng lúc, hoặc đi kèm một quyết định hành chính cần được phân tích riêng.

quy trình giải quyết tranh chấp đất đai theo từng bước

Câu hỏi thường gặp

Nguồn tham khảo

  • Văn bản hợp nhất 44/VBHN-VPQH năm 2026 hợp nhất Luật Đất đai

    Văn phòng Quốc hội

    Khoản 9, khoản 16, khoản 31, khoản 47 Điều 3; Điều 5; khoản 1 Điều 31; điểm b khoản 1 Điều 45; khoản 4 Điều 94; Điều 137; Điều 235; Điều 236

    Kiểm tra: 04/09/2026Xem nguồn →
  • Luật số 43/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai và một số luật liên quan

    Quốc hội

    Quy định ngày có hiệu lực 01/08/2024 của Luật Đất đai 2024

    Kiểm tra: 04/09/2026Xem nguồn →
  • Văn bản hợp nhất 41/VBHN-BNNMT năm 2026 hợp nhất Nghị định 151/2025/NĐ-CP về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực đất đai

    Bộ Nông nghiệp và Môi trường

    Điểm g khoản 2 Điều 5; Phần VIII Phụ lục; Điều 22 (chuyển tiếp)

    Kiểm tra: 04/09/2026Xem nguồn →
  • Văn bản hợp nhất 46/VBHN-BNNMT năm 2026 hợp nhất Nghị định 102/2024/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai

    Bộ Nông nghiệp và Môi trường

    Điều 105 (thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã); Điều 108 (căn cứ giải quyết khi không có giấy tờ)

    Kiểm tra: 04/09/2026Xem nguồn →
  • Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13

    Quốc hội

    Điều 175 (ranh giới giữa các bất động sản); Điều 176 (mốc giới ngăn cách); Điều 254 (quyền về lối đi qua)

    Kiểm tra: 04/09/2026Xem nguồn →
  • Văn bản hợp nhất 21/VBHN-VPQH năm 2026 hợp nhất Bộ luật Tố tụng dân sự

    Văn phòng Quốc hội

    Điều 35 (thẩm quyền của TAND khu vực); điểm c khoản 1 Điều 39 (thẩm quyền theo nơi có bất động sản); Điều 91 (nghĩa vụ chứng minh); Điều 93–97 (chứng cứ, nguồn chứng cứ, xác định chứng cứ); Điều 108 (đánh giá chứng cứ)

    Kiểm tra: 04/09/2026Xem nguồn →
  • Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về tố tụng

    Quốc hội

    Thay đổi cơ cấu Tòa án giải quyết sơ thẩm thành Tòa án nhân dân khu vực, hiệu lực 01/07/2025

    Kiểm tra: 04/09/2026Xem nguồn →
  • Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn quy định về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án

    Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

    Khoản 2 Điều 3 (điều kiện hòa giải tại UBND cấp xã đối với từng nhóm tranh chấp)

    Kiểm tra: 04/09/2026Xem nguồn →
  • Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã (công bố theo Quyết định 2304/QĐ-BNNMT)

    Cổng Thông tin điện tử Chính phủ

    Thành phần hồ sơ, thời hạn giải quyết và nội dung “Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Không quy định”

    Kiểm tra: 04/09/2026Xem nguồn →

Cập nhật lần cuối: 5/9/2026

Bài viết liên quan